Việt Nam khó đột phá trên nền “tư duy cũ”?

Link Video: https://www.youtube.com/watch?v=7IcrAUVAQ9k

Năm 2020 có thể được xem là một năm thành công đối với Việt Nam khi kiểm soát hiệu quả Covid-19 và duy trì tốc độ tăng trưởng GDP dương (2,4% theo dự báo của IMF) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ảm đạm, khiến nhiều nước phải trầm trồ.

Bên cạnh đó, Việt Nam còn giữ chức chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đăng cai tổ chức hội nghị thượng đỉnh 10 nước ASEAN trực tuyến (tháng 11/2020), sau đó đóng góp tích cực vào lễ ký kết trực tuyến lịch sử Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) – được xem là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới.

Việt Nam rõ ràng đã có những bước tiến thuận lợi, tranh thủ được sự chuyển dịch địa chính trị, kinh tế và môi trường kinh doanh toàn cầu, trong đó có thương chiến Mỹ – Trung.

Việc nhiều tập đoàn đa quốc gia lên kế hoạch chuyển hoạt động sản xuất từ Trung Quốc để né thuế quan trừng phạt của Mỹ đang tiếp thêm nhiên liệu cho nền kinh tế Việt Nam.

Theo báo cáo do IMF thực hiện, đến hết năm 2020, GDP danh nghĩa của Việt Nam sẽ vượt qua Singapore và Malaysia để trở thành nền kinh tế lớn thứ tư ASEAN.

Ruchir Sharma, chiến lược gia trưởng của Morgan Stanley Investment Management, cũng nhận định Việt Nam sẽ là một trong những nền kinh tế đang phát triển bật lên mạnh mẽ nhất sau đại dịch.

Tuy nhiên, bức tranh ấy chắc chắc sẽ không phải chỉ có mỗi màu hồng. Bên cạnh những điểm sáng lạc quan, hãy còn đó không ít nỗi lo.

Thứ nhất là nguy cơ “chưa giàu đã già“. Trên thực tế, Việt Nam đã bắt đầu bước vào thời kỳ già hóa dân số từ năm 2011 (với tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm 9,9%), sẽ trải qua giai đoạn dân số già từ 2026 – 2054 (chiếm 10 – 19,9%), và giai đoạn dân số rất già từ 2054 – 2069 (chiếm 20 – 29,9%).

Việt Nam cũng được xem là nước có thời gian chuyển từ “già hóa dân số” sang “dân số già” thuộc nhóm nhanh nhất thế giới (20 năm), trong khi Nhật Bản và Trung Quốc mất 26 năm, Anh và Tây Ban Nha mất 45 năm.

Một số biện pháp can thiệp nhằm duy trì mức sinh thay thế, như bỏ quy định không sinh con thứ ba, hay TP. HCM khuyến khích phụ nữ sinh thêm con vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong đợi.

Ngoài ra, Việt Nam cũng chưa thật sự tận dụng tốt cơ hội trong giai đoạn dân số vàng, khi tỷ lệ lao động được đào tạo có tăng lên nhưng năng suất vẫn thấp hơn nhiều so với Singapore, Malaysia, Thái Lan, … thậm chí còn có nguy cơ bị Lào và Campuchia qua mặt.

Ảnh 1: Sáng 15-11-2020, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh ký Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực RCEP dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Thứ hai, việc tranh thủ tối đa các yếu tố thuận lợi quốc tế và ổn định chính trị trong nước để tiếp tục thành công như 5 năm qua có thể sẽ không còn dễ dàng nữa khi Việt Nam bắt đầu chịu nhiều áp lực, bao gồm cả từ phía Washington – đối tác toàn diện, thân thiện và bạn hàng lớn nhất.

Thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ trong 10 tháng đầu năm 2020 đã lên tới 58 tỷ USD, vượt qua Nhật Bản, chỉ xếp sau Trung Quốc và Mexico, khiến Bộ Tài chính Mỹ “gắn nhãn” chỉ định Việt Nam là nước thao túng tiền tệ trong giai đoạn chuyển giao quyền lực của chính quyền Donald Trump.

Thứ ba, tư duy phát triển của các lãnh đạo Việt Nam thật sự chưa có nhiều đột phá.

Trong giai đoạn 2006 – 2016, do nóng vội, duy ý trí và quản trị kém, nhiều tổng công ty, tập đoàn nhà nước – được kỳ vọng là “quả đấm thép” của nền kinh tế Việt Nam – đã gây ra những sai phạm và hậu quả nghiêm trọng (như tham nhũng, thất thoát, thua lỗ tại Vinashin, PVN, …) mà đến giờ vẫn chưa khắc phục xong.

Điều này cho thấy tính không hiệu quả của chủ trương phát triển lấy khu vực kinh tế nhà nước làm chủ đạo.

Tuy nhiên, lộ trình thoái vốn nhà nước và cổ phần hóa các doanh nghiệp này vẫn đang diễn ra hết sức chậm chạp, liên tục bị trì hoãn.

Bên cạnh chính sách gom các đầu mối về một siêu ủy ban quản lý vốn nhà nước (thay cho SCIC), dự thảo mới đây do Bộ Kế hoạch & Đầu tư soạn thảo còn đề cập tới khái niệm “doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn“, đề xuất thí điểm chính sách riêng biệt đối với một số doanh nghiệp nhà nước đặc thù trong lĩnh vực viễn thông (Mobifone), năng lượng (EVN) và công nghiệp quốc phòng (Viettel) để đưa thành những con “sếu đầu đàn” thực thụ của nền kinh tế Việt Nam.

Cách làm này thực ra không có nhiều thay đổi về chất, chỉ là “dấu bụi dưới thảm“, cho nên khó có thể đảm bảo thành công và hiệu quả quản trị rủi ro.

Ảnh 2: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump trong cuộc hội đàm tại Nhà Trắng hôm 31-5-2017.

Liệu có thể trì hoãn cải cách được nữa không?

Cùng nhìn lại lịch sử, bài học Đổi mới tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 (năm 1986) thực chất chỉ là trở về với những giá trị cũ (xóa bỏ độc quyền nhà nước và tự do hóa một phần nền kinh tế) khi mô hình chỉ huy bao cấp lâm vào khủng hoảng.

Để đạt được mục tiêu thịnh vượng và chí ít trở thành một cường quốc bậc trung cho xứng đáng với tiềm năng của đất nước, Việt Nam cần thiết phải tiến hành cải cách mạnh mẽ, triệt để, vĩnh viễn không được đi vào vết xe đổ của “cải cách nửa vời“.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy, thịnh vượng sẽ là kết quả sau cùng của chính sách tự do hóa.

Nhà sử học Johan Norberg, người từng làm tập phim tài liệu “Thụy Điển: Một bài học cho Hoa Kỳ?“, khẳng định Thụy Điển không phải là một quốc gia xã hội chủ nghĩa bởi “nhà nước không sở hữu tư liệu sản xuất“.

Trong giai đoạn tăng trưởng thần kỳ của mình, các nền kinh tế Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đều duy trì vai trò dẫn dắt của nhà nước, nhưng dần nới lỏng, chấm dứt sự chi phối và nhường sân chơi cho khu vực tư nhân.

Ngay đến những công ty đình đám nhất Trung Quốc hiện nay – vốn tương đồng với Việt Nam về ý thức hệ – như Alibaba, Tencent, … cũng đều là do tư nhân điều hành.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 sắp diễn ra, sẽ hoạch định lộ trình cho giai đọan 5 năm tiếp theo nhằm củng cố thành công của Việt Nam như một quốc gia trẻ đang phát triển năng động, và một thị trường hấp dẫn 100 triệu dân.

Nhưng đó mới chỉ là trên khía cạnh kinh tế, còn về mặt chính trị xã hội (theo cách nói của Marx, chính là kiến trúc thượng tầng của cơ sở hạ tầng kinh tế), có lẽ Việt Nam không thể trì hoãn cải cách được nữa.

Trong bài viết “Việt Nam củng cố chế độ cộng sản cho 5 năm tới sau 2020” trên Nikkei Asia Review, tác giả Tomaya Onishi đã dẫn lời cựu Tổng biên tập báo Sài Gòn Tiếp thị Đặng Tâm Chánh, rằng các lãnh đạo Việt Nam giai đoạn tới nhất thiết phải có những chính sách hiệu quả để đảm bảo mô hình “nhà nước pháp quyền“, kiến tạo không gian tự do cởi mở thực sự cho người dân, bên cạnh tầm nhìn, mục tiêu và hành động cụ thể để dẫn dắt thế hệ trẻ phát triển hết tiềm năng.

Nhìn vào lịch sử kinh tế của Việt Nam cho thấy hai điểm nổi bật của hai thời kỳ của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trước 1975 và VN sau 1975.

Ảnh 3: Tượng đài N’Trang Lơng tại TP Gia Nghĩa vừa hoàn thành giai đoạn 1, trị giá gần 70 tỷ đồng. Công trình tượng đài có này giá trị lớn nhất tỉnh Đắk Nông với tổng mức đầu tư đến 167 tỷ đồng, khởi công ngày 19/5/2015

Dưới chế độ VNCH của miền Nam VN trong 2 thập niên ngắn ngủi từ 1955-1975, tuyên truyền xuyên tạc của giới truyền thông khuynh tả trong nước hay ngay ở Hoa Kỳ trong thời chiến tranh cho là VNCH chỉ là chế độ bù nhìn chạy theo chỉ huy của Mỹ một cách thụ động.

Nhưng ngược lại, trên thực tế VNCH đã chứng tỏ khả năng lập nước và dựng nước từ ngày lấy lại chủ quyền độc lập từ thực dân Pháp cho miền Nam.

Chính phủ VNCH đã tạo được một nền dân chủ pháp trị và áp dụng thành công một chính sách giáo dục nhân bản và khoa học để tạo dựng được nguồn vốn con ngưới (human capital) căn bản để thiết lập và duy trì một nền kinh tế ổn định ngay cả trong điều kiện của một trận chiến tranh khốc liệt.

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, trong khoảng thời gian gấp đôi sự tồn tại của VNCH, là 45 năm (1975-2020), Việt Nam thống nhất đã thừa hưởng được nhiều di sản của VNCH và thành công hơn trong việc thay đổi bộ mặt kinh tế của cả nước.

Tuy với vấn nạn tham nhũng trầm trọng và sự yếu kém khả năng kỹ trị của giới chức cầm quyền, VN đã thực hiện được hai thập niên với độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 5%-6% nhờ vào sự thông minh chăm chỉ của đại đa số dân chúng, nói rõ hơn là mồ hôi và nước mắt của họ.

Nhiều quan sát viên còn nhận xét rằng nếu có nền dân chủ pháp trị, bỏ bớt hệ thống luật lệ kiểu xã hội chủ nghĩa trói chặt khu vực tư nhân, và biết áp dụng nguồn vốn con người (human capital) như ngay dưới thời VNCH chứ không cần nhìn đâu xa, nước Việt Nam ngày nay đã có thể tăng trưởng 10%-12% hàng năm từ vài thập niên qua trong các điều kiện hòa bình và thống nhất thuận lợi hơn xa VNCH ngày xưa.

Và có thể dễ dàng thoát bẫy thu nhập trung bình loại thấp trong dài hạn.

Ảnh 4: đường phố Sài gòn trước 1975

Tựu chung, Việt Nam đã lỡ hẹn với chính mình khi đặt mục tiêu cách đây 25-30 năm là sẽ trở thành một nước công nghiệp hóa hiện đại hóa vào năm 2020.

Nay năm đó đã vừa qua và mục tiêu còn quá xa vời, nên Chính phủ lại đặt mốc thời gian mới là năm 2045 tức là 25 năm nữa, với chiến lược tăng trưởng tiếp tục dựa trên FDI và phát triển công nghệ cao.

Như TS Trần Văn Thọ đã đề cập, kinh tế VN tuy đã có được “tăng trưởng” với độ tăng GDP cao như trong ba năm 2017-19 hay vài năm trước 2008, nhưng vẫn chưa được gọi là “phát triển” theo đúng nghĩa, do thiếu tính bền vững và thiếu chất lượng cao.

Vì các vấn đề “thắt nút cổ chai” căn bản, như hạ tầng cơ sở chưa phát triển đúng mức để thu hút FDI chất lượng, hay môi trường xấu đang trên đà hủy hoại nghiêm trọng, hay nền giáo dục ngày càng xuống dốc cần thay đổi để đón công nghệ cao và tạo sức cạnh tranh cần thiết cho xuất khẩu và nền kinh tế.

Cần cần chấp nhận ngay thể chế dân chủ pháp trị để tạo môi trường thuận lợi cho nền kinh tế thị trường và sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân.

Phải thật sự tăng cường vai trò chủ động của khu vực này thay vì tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu sản xuất và phân bổ tài nguyên qua khu vực nhà nước và các xí nghiệp quốc doanh.

Kết luận chính là mô hình tăng trưởng từ 30 năm qua, dựa trên khuyến khích xuất khẩu và đầu tư cao với FDI và đầu tư nhà nước, cần được tái cấu trúc với một chiến lược mới và một mô hình phát triển hài hòa hơn nhắm cả vào thị trường nội địa: thí dụ hài hòa hơn giữa xuất khẩu (cần thiết để có phương tiện trả nợ) và thị trường trong nước, và giữa FDI với đầu tư của tư nhân trong nước…

Để nhắm vào phát triển “nội lực“, sự phát triển của khu vực tư nhân nói trên sẽ giúp cải thiện hệ thống lương bổng, nhất là mức lương tối thiểu, để tăng mãi lực tiêu thụ trong nước; đây là đề tài đã được bàn cãi nhiều nhưng chưa có giải pháp cụ thể trừ phi có sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư nhân.

̣Đại dịch Covid-19 của năm 2020 đang chặn đứng các nguồn thu quan trọng của du lịch nước ngoài, gây ra thất nghiệp là vấn nạn khẩn cấp, cũng là nhắc nhở đúng lúc cho vai trò của nội lực trong công cuộc phát triển ở thập niên tới, trước khi theo đuổi mục tiêu dài hạn cho năm 2045.

Ảnh 5: người dân TpHCM đi xem bắn pháo hoa tết Dương lịch 2021

Lan Anh – Thoibao.de (Tổng hợp)

>>> Chỉ có li khai, Trần Quốc Vượng mới quật ngã Nguyễn Phú Trọng

>>> Vì sao càng gần đại hội, Nguyễn Phú Trọng càng lộng quyền?

>>> Nhân sự lãnh đạo đảng căng thẳng đến phút chót trước đại hội 13

Hội nghị trung ương 15 trận chiến cuối cùng của N.P Trọng


Cách cài vượt tường lửa miễn phí:

Điện thoại di động (mobile phone) = https://bit.ly/2QCRpE7

Trình duyệt (browser) = https://bit.ly/3hKTidT


Bình luận