Nguy cơ “Vùng nhận dạng phòng không” – thuốc nổ cho căng thẳng Mỹ – Trung

Link Video : https://www.youtube.com/watch?v=x_VA66jdZoU

Nguy cơ Trung Quốc lập vùng nhận dạng phòng không ADIZ trên Biển Đông đang ở mức báo động. Khi đó cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung chắc chắn sẽ bước sang một giai đoạn mới mà hậu quả của nó có lẽ không ai dám nghĩ tới. Hãy cùng nhìn lại lịch sử cuộc đọ sức này trong những thập kỷ qua.

Sau một chiến thắng toàn diện trong Nội chiến Trung Quốc, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 01/10/1949 trên Quảng trường Thiên An Môn.

Như vậy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời vào giai đoạn đầu của Chiến tranh Lạnh (1947-1953), được bắt đầu trong 2 năm đầu tiên sau khi kết thúc Thế chiến II (1945).

Trong giai đoạn này, Liên Xô củng cố sự kiểm soát của mình lên những quốc gia của khối Đông Âu, trong khi Hoa Kì bắt đầu một chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên toàn cầu, mở rộng quân sự và viện trợ tài chính tới những quốc gia Đông Âu (ví dụ như ủng hộ phe chống cộng sản trong Nội chiến Hy Lạp và thành lập liên minh quân sự NATO).

Sự kiện phong tỏa Berlin (1948-1949) là cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên của Chiến tranh Lạnh.

Với chiến thắng của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong Nội chiến Trung Quốc và sự bùng nổ của Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), cuộc xung đột đã lan rộng.

Tuy nhiên, hai nhân vật chính trong cuộc chiến này vẫn là Liên Xô và Mỹ.

Đối với Washington, sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 đã đánh dấu chiến thắng của chủ nghĩa tự do.

Còn tại Trung Quốc, sau gần ba mươi năm theo chủ nghĩa Mao, Trung Quốc vẫn là một « chú lùn » về kinh tế, nên thực sự chưa phải là đối thủ cạnh trang của Mỹ. Trái lại, Bắc Kinh coi Hoa Kỳ là đối thủ, vì Mỹ là đại diện của tự do hóa và dân chủ hóa trên toàn thế giới. Trung Quốc quyết định kín đáo củng cố sức mạnh để chuẩn bị cho một cuộc xung đột trong tương lai. Cải cách được đưa ra, với các yếu tố tư bản, nhưng chế độ vẫn giữ quyền kiểm soát.

Ảnh: Lễ kỷ niệm 70 năm Quốc khánh Trung Quốc được tổ chức tại Quảng trường Thiên An Môn, với sự tham gia của hàng chục nghìn người ngày 01/10/2019

Cái chết của Mao Trạch Đông kéo theo cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa Bè lũ bốn tên, Hoa Quốc Phong và Đặng Tiểu Bình. Kết quả, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền lãnh đạo tối cao Trung Quốc vào năm 1980 và đưa đất nước đi theo con đường Cải cách Khai phóng cùng với chính sách ngoại giao “giấu mình chờ thời” đã mang lại một diện mạo mới mẻ cho kinh tế Trung Quốc.

Việc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế giới (WTO) năm 2001 là một đòn bẩy cho Bắc Kinh tạo lập một chỗ đứng trên trường quốc tế. Các công ty nước ngoài bị mê hoặc bởi thị trường Trung Quốc khổng lồ, đã đầu tư, chuyển giao công nghệ cho Trung Quốc. Phương Tây tưởng rằng khi họ giúp Trung Quốc hội nhập quốc tế, Bắc Kinh sẽ tự do hóa chính trị và tầng lớp trung lưu mới sẽ đòi hỏi nhiều quyền tự do hơn. Bắc Kinh cũng đưa ra một số đảm bảo, cho các địa phương nhiều quyền tự do dân chủ hơn. Đã có nhiều căng thẳng song phương giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng sau vụ 11/9/2001, Hoa Kỳ bị cuốn vào cuộc chiến chống khủng bố và không còn chú ý đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Theo nhà nghiên cứu Nadège Rolland (Na-đe-giơ Gô-lăng), chuyên gia về chính trị và an ninh châu Á, thuộc Văn phòng quốc gia về nghiên cứu châu Á, trụ sở tại Seattle và Washington, cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế 2007-2008 đã giáng một đòn mạnh vào các nền kinh tế phương Tây. Trung Quốc nhận định Mỹ đã bắt đầu suy tàn, kéo theo cả hệ thống tư bản và tự do.

Về phần mình, Trung Quốc tiến hành đàn áp Tân Cương và Tây Tạng, bắt đầu bộc lộ tham vọng bá quyền ở Biển Đông mà không vấp phải bất kỳ phản ứng nào của Hoa Kỳ và Châu Âu. Chính sách tiến từng bước nhỏ của Bắc Kinh đã được khởi đầu một cách thuận lợi.

Vào năm 2012, Tập Cận Bình lên nắm quyền. Nhiệm vụ của ông ta là hiện thực hóa giấc mơ của nước này. Ông Tập đã đề xuất kế hoạch Con đường tơ lụa mới và Made in China 2025, nhằm đưa Trung Quốc dẫn đầu thế giới về tất cả các lĩnh vực công nghệ.

Ảnh: Hội nghị toàn thể lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bầu ông Tập Cận Bình làm tân Tổng bí thư ngày 15/11/2012

Mỹ trong suốt một thời gian dài đã không tính đến sự phát triển của hệ thống chính trị Trung Quốc và tiếp tục coi họ là đối tác thương mại.

Học giả Rolland nhận định thời Obama là thời Mỹ do dự, chần chừ. Mục tiêu của chính quyền Obama không phải là gây ra những cơn sóng, mà là nối lại quan hệ. Vào năm 2015, Tập Cận Bình đã đến California trấn an Mỹ, bảo đảm không có gián điệp mạng. Hai năm sau, chiếc mặt nạ rơi xuống. Năm 2017, ông tuyên bố sự ra đời của một “kỷ nguyên mới“, sự tái sinh của cường quốc Trung Hoa vĩ đại nhất trong lịch sử. Lãnh đạo họ Tập đề xuất với các nước đang phát triển chọn mô hình chuyên quyền Trung Quốc thay cho mô hình dân chủ tự do. Và ông cũng đã biến nhiệm kỳ lãnh đạo của mình trở nên không giới hạn.

Mỹ đã bắt đầu thảo luận về « phân ly kinh tế » với Trung Quốc dưới nhiệm kì của Tổng thống Donald Trump. Nhưng COVID-19 đã cho thấy Mỹ phụ thuộc vào Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực, kể cả dược phẩm. Hoa Kỳ sẽ không thể tự sản xuất mọi thứ, họ tìm cách xích lại gần các quốc gia mà họ tin tưởng. Nhưng không thể tái lập dây chuyền sản xuất hàng hóa trong ngày một ngày hai.

Về phía Bắc Kinh, sự phân ly kinh tế đã bắt đầu. Trong tất cả các lĩnh vực, Trung Quốc đã dần dần hạn chế sự xâm nhập của nước ngoài vào lãnh thổ của mình, trong khi vẫn mở rộng hoạt động trên lãnh thổ các nước khác. Trung Quốc bao bọc mạng internet bằng bức tường lửa không thể bị xuyên thủng, nhưng lại sử dụng mạng thông tin toàn cầu vì lợi ích của chế độ. Bắc Kinh hạn chế các công ty phương Tây xâm nhập thị trường Trung Quốc, nhưng lại yêu cầu các nước khác phải mở thị trường cho Trung Quốc. Bắc Kinh làm chậm sự lan tỏa của các tư tưởng phương Tây, nhưng ồ ạt truyền bá ý thức hệ của họ để làm suy yếu các giá trị phổ quát. Đã đến lúc phương Tây ngưng mù quáng.

Nhà nghiên cứu Nadège Rolland khẳng định: “Giờ không còn là lúc ngồi xổm trên các giá trị căn bản của để tiếp cận thị trường Trung Quốc và nhập khẩu các sản phẩm giá rẻ. Các nền dân chủ phải hợp tác với nhau để tái liên kết các nền kinh tế, đẩy lùi những bước tiến của Trung Quốc trong xã hội của họ và ở các nước thứ ba. Chúng ta đã mất rất nhiều thời gian, và điều đó đòi hỏi chúng ta phải có ý chí chính trị mạnh mẽ.”

Mỹ đã ý thức được sự trỗi dậy của đối thủ trực tiếp Trung Quốc hơn ai hết và đang nỗ lực ngăn chặn nước này trước hết là trên Biển Đông, vùng biển có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Lần đầu tiên kể từ năm 2017, ba nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ đã được phái đến châu Á để phô trương uy lực răn đe Trung Quốc khi nước này đang ngày càng có thêm nhiều hành vi dùng sức mạnh để độc chiếm Biển Đông, mà bước tới đây có thể là việc thiết lập một vùng nhận dạng phòng không bên trên vùng biển Đông Nam Á.

Theo thông báo của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, hai nhóm tác chiến của tàu sân bay USS Theodore Roosevelt (CVN 71) và USS Nimitz (CVN 68) đã bắt đầu các bài tập huấn chung trên Biển Philippines kể từ hôm 21/06/2020. Cùng ngày, trang web thông tin DVIDS của bộ Quốc Phòng Mỹ cũng công bố hình ảnh về hoạt động, cũng trên Biển Philippines, của hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan (CVN 76) cùng nhóm tác chiến đi theo.

Việc huy động đồng thời ba nhóm tác chiến tàu sân bay là một động thái phô trương uy lực rõ nét, vì mỗi nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ đều bao gồm một tuần dương hạm và hai khu trục hạm hộ tống, tất cả đều có trang bị tên lửa dẫn đường. Mỗi hàng không mẫu hạm đều chở theo hơn sáu chục chiến đấu cơ hiện đại cùng một số loại phi cơ khác, một lực lượng máy bay hùng hậu hơn toàn bộ không lực của phần đông các nước châu Á.

Sự hiện diện đồng thời của ba nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ trên cùng một vùng biển ở châu Á mới chỉ được Mỹ thúc đẩy vào năm 2017 nhằm răn đe Triều Tiên.

Để Bắc Kinh hiểu rõ thông điệp răn đe nên các nhóm tác chiến tàu sân bay của Mỹ đã nhanh chóng đến tập trận ngay tại Biển Philippines, nơi được coi là cửa ngõ vào Biển Đông. Thông điệp đã được truyền tải đến Bắc Kinh là: Washington đã muốn cho Bắc Kinh thấy rõ là cho dù bị dịch COVID-19, Mỹ vẫn còn đủ “cơ bắp”.

Giới chức quân đội Mỹ thời gian gần đây đang báo động nguy cơ Trung Quốc lập vùng nhận dạng phòng không ADIZ mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Theo ABS-CBN News, tham gia một cuộc hội thảo qua video tổ chức tại Manila ngày thứ tư 24/6/2020, tướng Charles Brown Jr, Tư lệnh không quân Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, cảnh báo: cả một vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương và lưu thông trên biển, trên không sẽ bị tác hại nghiêm trọng, nếu Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông. Sự việc này ảnh hưởng đến trật tự quốc tế, xâm phạm quyền tự do lưu thông hàng không, hàng hải trên cơ sở luật pháp.

Tướng Charles Brown Jr cho biết Hoa Kỳ luôn theo dõi chặt chẽ các hành động của Bắc Kinh.

Tư lệnh không quân Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương tố cáo Bắc Kinh lợi dụng tình trạng quốc tế bận tâm chống dịch COVID-19 để gia tăng sức ép, buộc các nước nhỏ ở Đông Nam Á tuân thủ các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc.

Trước đó, một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố Bắc Kinh đang “nghiên cứu một cách nghiêm túc và thận trọng khả năng thành lập vùng nhận dạng phòng không tại biển Hoa Nam (Biển Đông) để chống lại các mối đe dọa an ninh trên không phận vùng biển của Trung Quốc“.

Việc thiết lập một vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông là ý đồ của giới lãnh đạo Trung Quốc từ một thập niên nay. Trung Quốc đã thiết lập vùng nhận dạng phòng không đầu tiên vào năm 2013 ở Biển Hoa Đông, bao trùm cả quần đảo Điếu Ngư/Senkaku mà họ tranh chấp với Nhật Bản. Mỹ đã cấp tốc cho hai oanh tạc cơ bay ngang vùng này mà không hề xin phép, để chứng tỏ là Mỹ không quan tâm gì đến quyết định của Trung Quốc. Thế nhưng phần lớn các nước – kể cả Mỹ – đều thận trọng khuyên các hãng máy bay dân sự tuân theo các quy tắc mới để bảo đảm an toàn.

Mới đây, nhật báo Hồng Kông South China Morning Post tiết lộ rằng giới lãnh đạo Trung Quốc đang chờ đợi “thời cơ thích hợp” để tuyên bố kế hoạch lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông. Những động thái vừa qua của Trung Quốc ở Biển Đông càng làm gia tăng mối lo ngại theo đó có lẽ Trung Quốc đã thấy rằng thời cơ đã đến.

Zack Cooper, Chuyên gia Viện nghiên cứu American Enterprise Institute giải thích là đối với Trung Quốc, vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông dễ kiểm soát hơn vùng trên Biển Hoa Đông.

Bắc Kinh có thể vừa sử dụng radar trên đảo Hải Nam hay dọc bờ biển Hoa Lục, vừa dùng những radar mới đặt ở Trường Sa và Hoàng Sa, đồng thời trám được mọi lỗ hổng trong màng lưới dò tìm bằng cách dùng đến máy bay giám sát hay chiến đấu cơ đã được triển khai trên các đảo, hoặc sử dụng các khu trục hạm trang bị radar.

Tóm lại, theo ông Cooper, Trung Quốc có thể theo dõi “phần lớn máy bay nước ngoài” tiến vào vùng nhận dạng phòng không.

Theo The Economist, máy bay quân sự Mỹ dĩ nhiên sẽ không chú ý đến những quy tắc mới của Trung Quốc như đã từng làm ở Biển Hoa Đông, thế nhưng việc Trung Quốc tuyên bố ADIZ vẫn sẽ khiến Mỹ phải bận tâm. Lý do là cho dù chỉ thành công một phần thì vùng nhận dạng phòng không vẫn rất có lợi cho Trung Quốc. Cho dù vùng này không cho Bắc Kinh chủ quyền trên không phận, nhưng Trung Quốc có thể sử dụng vùng này để chứng tỏ quyền lực.

Cho đến giờ chưa có bằng chứng về việc Trung Quốc đã sử dụng vùng nhận dạng phòng không họ hiện có để gây xáo trộn cho các đường bay dân sự, nhưng đó có thể là một công cụ dùng khi có khủng hoảng. Trung Quốc có thể viện lý do có vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông để tăng cường các chuyến bay tuần tra trong khu vực.

Tuy nhiên, việc thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông không phải là không có khó khăn. Đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông vừa quá rộng lớn, vừa mơ hồ. Tấm bản đồ Đường 9 đoạn bao quanh cả Biển Đông, nhưng Bắc Kinh lại không đưa ra tọa độ cũng như nói rõ ý nghĩa của đường này.

Ở Biển Hoa Đông, vùng nhận dạng của Trung Quốc phần lớn đi theo vùng thềm lục địa đang có tranh chấp của Nhật Bản, còn ở Biển Đông, theo Chuyên gia Alessio Patalano, Trường đại học King’s College ở Luân Đôn, nếu vùng này chỉ được vẽ ra xung quanh các thực thể rải rác mà Trung Quốc nắm giữ, thì điều đó có thể đánh một đòn “chí tử” vào bất kỳ yêu sách nào của Trung Quốc đối với các khu vực nằm bên trong đường 9 đoạn.

Nhưng nếu ranh giới vùng nhận dạng phòng không đi theo đường lưỡi bò, điều đó sẽ gây chấn động. Từ nhiều năm nay, 10 thành viên ASEAN đã bị chia rẽ về cách đối phó với Trung Quốc. Nhiều thành viên muốn hòa dịu với Trung Quốc, trong khi một số ít lại muốn có thái độ cứng rắn. Một hội nghị thượng đỉnh trực tuyến của ASEAN sẽ mở ra vào cuối tháng này. Theo chuyên gia Collin Koh thuộc Trường Nghiên Cứu Quốc Tế S. Rajaratnam ở Singapore, việc Trung Quốc lập vùng nhận dạng phòng không có thể làm thay đổi tương quan lực lượng và làm suy giảm các nỗ lực của khối để đàm phán một Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông với Trung Quốc.

Hải Yến từ Hà nội – Thoibao.de (Tổng hợp)

>>> Biển Đông: Mỹ có 3 cách “xử” Trung Quốc

>>> Ba tàu sân bay Mỹ áp sát Biển Đông – Trung Quốc lo sợ?

>>> Quân đội Trung Quốc mạnh đến đâu?

Ba tàu sân bay Mỹ nhằm hướng Biển Đông – TQ “quay cuồng”

Bình luận